Di tích Côn Sơn

Côn Sơn là nơi có phong cảnh thiên nhiên thơ mộng, hữu tình với núi, rừng, suối, hồ, đan xen hòa hợp. Phía bắc Côn Sơn giáp núi Ngũ Nhạc, cao 238m, trên đỉnh có miếu “Ngũ Nhạc linh từ” thờ thần núi. Ngay bên cạnh là núi Kỳ Lân (còn gọi là núi Côn Sơn) cao 200m, trên đỉnh có Bàn Cờ Tiên và di tích nền của Am Bạch Vân. Rừng ở Côn Sơn chủ yếu là thông, bạt ngàn, xanh tốt. Suối Côn Sơn chảy rì rầm từ Bắc xuống Nam, giống như tiếng đàn cầm vang vọng giữa núi rừng mênh mông… Bắc qua suối là cây cầu Thấu Ngọc – một công trình tuyệt mỹ đã đi vào thơ ca, sử sách. Mỗi buổi sáng, sương mờ trắng xóa bao phủ đỉnh núi, trưa đến, Côn Sơn lại khoác lên mình tấm áo tươi xanh, ngan ngát hương bay.
Cảnh đẹp Côn Sơn từ trước tới nay đã quyến rũ bao tao nhân, mặc khách. Chả thế mà, sáu thế kỷ trước, Côn Sơn đã như cảnh thần tiên qua ngòi bút của Nguyễn Phi Khanh (thân sinh ra Nguyễn Trãi) tả trong “Thanh Hư Động ký: “Khói đầu non, ráng ngoài đảo, gấm vóc phô bầy/ Hoa dọc suối, cỏ ven rừng biếc hồng phấp phới/ Bóng mát để nghỉ, chỗ vắng để ngồi, mùi thơm để ngửi, sắc đẹp để xem…”. Với Nguyễn Trãi, Côn Sơn thật hữu tình, được thể hiện qua tác phẩm Côn Sơn Ca: “Côn Sơn suối chảy rì rầm/ Ta nghe như tiếng đàn cầm bên tai…”.
Không chỉ được thiên nhiên ưu ái ban tặng cảnh đẹp, Côn Sơn còn là miền đất địa linh nhân kiệt.
Hơn một ngàn năm trước, Định Quốc Công Nguyễn Bặc, thủy tổ của dòng họ Nguyễn Trãi đã lập căn cứ ở Côn Sơn để đánh sứ quân Phạm Phòng Át, một trong 12 loạn sứ quân vào cuối thời nhà Ngô (thế kỷ thứ 10), giúp Đinh Tiên Hoàng thống nhất đất nước. Thế kỷ 13, vua Trần Nhân Tông, Pháp Loa, Huyền Quang, ba vị lập ra thiền phái Trúc Lâm đã về Côn Sơn thuyết pháp, xây dựng chùa Côn Sơn thành chốn Tổ đình, một thiền viện lớn của triều Trần và giao cho Huyền Quang trụ trì. Trần Nguyên Đán – quan Đại tư đồ phụ chính, nhà thơ, nhà lịch pháp lớn thời Hậu Trần đã về Côn Sơn dựng Thanh Hư Động để nghỉ ngơi những năm tháng cuối đời. Lê Thánh Tông (1460 – 1497), vị minh quân và là Tao Đàn nguyên súy (thời Lê sơ), Thánh thơ Cao Bá Quát (1808-1855) (thời Nguyễn)… đều đã đến đây vãn cảnh, làm thơ, để lại cho đời những tác phẩm giá trị.
Tháng 2/1965, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã về thăm danh thắng Côn Sơn. Tại đây, Người đã đọc văn bia trước cửa chùa Côn Sơn bằng sự trân trọng, thiêng liêng và niềm giao cảm đặc biệt với cố nhân.
Côn Sơn gắn liền với tên tuổi của nhiều danh nhân đất Việt. Tuy nhiên, khi nói đến Côn Sơn là nói đến Anh hùng dân tộc, Danh nhân văn hóa thế giới Nguyễn Trãi – người đã gắn bó cả cuộc đời, sự nghiệp của mình ở đây. Thật vậy, ở Côn Sơn, mỗi sự vật, di tích đều lấp lánh ánh sáng của Nguyễn Trãi – Sao Khuê.
Khu di tích này hiện còn lưu giữ nhiều di tích văn hóa, lịch sử có giá trị, tiêu biểu như:
Chùa Côn Sơn (hay còn gọi là chùa Kỳ Lân, chùa Hun), tọa lạc ở chân núi Kỳ Lân (núi Hun). Chùa có tên chữ là Thiên Tư Phúc tự. Tương truyền, năm Hưng Long thứ 12 (1304), nhà sư Pháp Loa đã cho xây dựng một ngôi chùa nhỏ ở chân núi Kỳ Lân, giao Huyền Quang trụ trì. Đến năm Khai Hựu thứ nhất (1329), chùa được trùng tu, mở rộng thành Côn Sơn Thiên Tư Phúc tự, một trong các trung tâm của thiền phái Trúc Lâm. Đến thời Lê, chùa tiếp tục được trùng tu, mở rộng lớn với 83 gian tòa ngang dãy dọc, gạch đỏ, ngói để men màu và 385 pho tượng. Tuy nhiên, trải qua biến thiên của lịch sử, chùa đã bị thu nhỏ lại với kiến trúc hiện nay hình chữ công (工), gồm 3 toà: Tiền đường, Thiêu hương và Thượng điện. Thượng điện thờ Phật, trong đó có những bức tượng Phật cao 3m, mang đậm phong cách nghệ thuật thời Lê.
Cùng với kiến trúc đặc sắc, chùa còn lưu giữ cây Đại 600 tuổi, 4 nhà bia, đáng chú ý là bia “Thanh Hư Động” dựng từ thời Long Khánh (1373 – 1377) còn lưu giữ bút tích của Vua Trần Duệ Tông và bia hình lục lăng “Côn Sơn thiện tư bi phúc tự” đã được Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc khi Người về thăm di tích vào ngày 15/2/1965.
Chùa đã được Bộ Văn hóa Thông tin (nay là Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch) xếp hạng di tích quốc gia đợt I năm 1962 và di tích đặc biệt quan trọng vào năm 1994.
Nhà Tổ nằm ngay phía sau chùa Côn Sơn, thờ tượng 3 vị Trúc Lâm Tam Tổ (Vua Trần Nhân Tông, Pháp Loa và Huyền Quang), tượng Quan tư đồ Trần Nguyên Ðán và vợ, tượng Nguyễn Trãi và vợ thứ của ông (bà Nguyễn Thị Lộ).
Đền Nguyễn Trãi có tên chữ là “Ức Trai linh từ”, tọa lạc trên diện tích 10.000m² dưới chân núi Ngũ Nhạc nằm trong khu vực Thanh Hư Động và gần nơi ngày xưa từng có đền thờ bà Trần Thị Thái – thân mẫu của Nguyễn Trãi. Đền tựa lưng vào Tổ Sơn, hai bên dựa vào hai dãy núi Ngũ Nhạc và Kỳ Lân tạo thế tả thanh long, hữu bạch hổ. Minh đường của đền nhìn ra hồ Côn Sơn, nơi có núi Phượng Hoàng, Chúc Thôn chầu vào. Dòng suối Côn Sơn chảy từ Bắc xuống Nam, uốn lượn từ phải qua trái ôm lấy đền.
Đền gồm có 15 hạng mục: đền Chính, nhà Tả vu, nhà Hữu vu, Nghi môn nội, Nghi môn ngoại, cầu Thấu Ngọc, miếu Giải oan, hồ Nhân Nghĩa, nhà bia, am hoá vàng, hệ thống sân vườn… Trong đó, đền Chính được xây dựng trên diện tích khoảng 200m², theo hình chữ công (工), mang phong cách kiến trúc thời hậu Lê, gồm 3 gian: Tiền tế, Trung từ và Hậu cung. Trong Hậu cung đặt tượng thờ Nguyễn Trãi bằng đồng cao 1,4 m, nặng 600 kg và hai tượng song thân phụ mẫu của ông.
Tại đây vẫn còn lưu giữ những bức hoành phi, câu đối với nội dung thể hiện tâm hồn, cốt cách, tài năng, công đức lớn lao của Nguyễn Trãi và tấm lòng thành kính, biết ơn của nhân dân đối với ông.
Đền thờ Trần Nguyên Đán được xây dựng năm 2004, gần thượng nguồn suối Côn Sơn, tại vị trí mà hơn sáu trăm năm trước ông đã dựng nhà để nghỉ ngơi, an dưỡng tuổi già.
Năm 1385, Trần Nguyên Đán đã đưa vợ và cháu ngoại là Nguyễn Trãi mới 5 tuổi về sống tại Côn Sơn. Tại đây, ông đã cùng vợ trồng rừng thông, bãi giễ và xây dựng quần thể kiến trúc trong núi – động Thanh Hư. Đây là công trình quy mô hoành tráng, bao gồm nhiều hạng mục hài hoà với thiên nhiên, đã trở thành địa danh nổi tiếng, đi vào thi ca, sử sách.
Giếng Ngọc nằm ở sườn núi Kỳ Lân, dưới chân Ðăng Minh Bảo Tháp. Tương truyền, vào một đêm rằm tháng bảy, thiền sư Huyền Quang mơ thấy một viên ngọc sáng lấp lánh nằm trên sườn núi Kỳ Lân. Trời sáng, thiền sư cùng các tăng ni lên sườn núi xem xét, khi phát quang bụi sim, mua, thấy một giếng nước trong vắt, uống thử thấy nước ngọt, mát, người khoan khoái. Khi về chùa, thiền sư đã làm lễ tạ thần linh vì ban cho chùa nguồn nước quý và xin được khơi sâu, kè bờ. Từ đó giếng được gọi là giếng Ngọc và các sư trong chùa thường lấy nước giếng để cúng lễ. Đã có thời gian giếng bị cỏ cây che lấp. Năm 1995, giếng đã được đầu tư khơi lại, kè đá, xây bờ, lát sân để tạo cảnh quan chung cho khu du lịch và cũng là để du khách khi về thăm Côn Sơn có dịp uống ngụm nước giếng thiêng.
Khu mộ tháp nằm gần giếng Ngọc. Tại đây, Vua Trần Minh Tông đã cho dựng Đăng Minh bảo tháp bằng đá xanh, cao 3 tầng, bên trong đặt xá lợi và tượng thờ Huyền Quang sau khi thiền sư mất.
Bàn Cờ Tiên: Từ giếng Ngọc, theo con đường lát đá dài hơn 600 bậc với hai bên là rừng thông xanh cao ngất trời sẽ đến đỉnh núi Kỳ Lân (cao 200m). Đỉnh núi là một khu đất bằng phẳng, trên có một phiến đá khá rộng, người xưa gọi là Bàn Cờ Tiên. Tại đây hiện còn lưu giữ di tích nền hình chữ công của Am Bạch Vân – một kiến trúc được xây dựng từ thời Trần (thế kỷ 14), thời Trúc Lâm đệ tam tổ Huyền Quang tu hành ở chùa Côn Sơn với tám mái chảy, có lan can xung quanh, để các vị cao tăng tu luyện, giảng kinh, thuyết pháp cho môn đệ.
Năm 1992, Bộ Văn hóa – Thông tin (nay là Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch) đã xây dựng “Vọng giang đình” (nhà bia) hai tầng cổ các tám mái để tưởng niệm Anh hùng dân tộc Nguyễn Trãi ngay bên cạnh di tích nền Am Bạch Vân. Tại đây có bia đá khắc ghi về thân thế, sự nghiệp của Nguyễn Trãi và lịch sử di tích Côn Sơn.
Từ đỉnh núi Kỳ Lân, du khách có thể nhìn bao quát cả một vùng núi, rừng rộng lớn, nhìn về đông bắc 10km là núi Bái Vọng với quả núi hình hoa sen, cỏ cây tươi tốt, đây chính là nơi để thi hài của Nguyễn Phi Khanh, thân phụ của Nguyễn Trãi.
Thạch Bàn là hai tảng đá sói kết, mặt tương đối bằng phẳng, nằm cách nhau gần 100m, bên cạnh suối Côn Sơn.
Thạch Bàn lớn thường gọi là “hòn đá 5 gian”, có kích thước 28,5 x 6m. Tương truyền, đây là nơi Nguyễn Trãi thường ngồi ngắm cảnh, làm thơ và suy nghĩ vận nước. Thạch Bàn nhỏ hơn là nơi Chủ tịch Hồ Chí Minh dừng chân nghỉ ngơi, ngắm cảnh khi Người đến thăm Côn Sơn.
Hàng năm, tại Côn Sơn diễn ra hai lễ hội chính gắn với đền Kiếp Bạc (xã Hưng Đạo, thị xã Chí Linh). Lễ hội mùa xuân Côn Sơn – Kiếp Bạc được tổ chức từ 14 – 17 tháng Giêng để tưởng niệm ngày viên tịch của Đệ tam Thánh tổ Huyền Quang tôn giả, với các nghi thức tế lễ và diễn xướng dân gian như: Lễ Mông sơn thí thực, lễ tế trời đất trên Ngũ Nhạc linh từ, lễ rước nước, đua thuyền trên Lục Ðầu Giang, chọi gà, cờ người, đấu vật… Lễ hội mùa thu Côn Sơn – Kiếp Bạc được tổ chức từ ngày 15 – 20/8 âm lịch để tưởng nhớ ngày mất của Đức Thánh Trần và Anh hùng dân tộc Nguyễn Trãi, với các nghi lễ như: lễ rước cỗ tiến Thánh, lễ duyệt quân trên sông Lục Đầu, lễ cầu an và hội hoa đăng trên sông Lục Đầu, lễ ban ấn của Đức Thánh Trần và nhiều hoạt động dân gian như: đấu vật, đua thuyền, bắt vịt…
Trong những năm gần đây, Côn Sơn đã được tôn tạo và bổ sung nhiều công trình, đường vào Côn Sơn từ nhiều ngả được nâng cấp và tráng nhựa. Du khách đến đây dù vào thời điểm nào cũng bắt gặp không khí mát mẻ trong lành, một không gian thơ mộng và đượm tính nhân văn.

Du lịch Côn Sơn – Kiếp Bạc

Lễ hội truyền thống Côn Sơn, Kiếp Bạc

Côn Sơn, Kiếp Bạc là hai di tích lịch sử đặc biệt quan trọng của quốc gia; thời Trần thuộc huyện Phượng Sơn, lộ Lạng Giang, thời Lê đổi thành huyện Phượng Nhỡn, thuộc thừa tuyên Bắc Giang, sau là trấn Kinh Bắc. Khu Di tích Côn Sơn – Kiếp Bạc nay thuộc thị xã Chí Linh, tỉnh Hải Dương. Sách Cao Biền di cảo và Chí Linh phong vật chí chép rằng: Côn Sơn, Kiếp Bạc mạch tự Huyền Đinh, thế ngăn Đông Bắc, bốn phương quy phục, núi sông kỳ hình kỳ dạng, long bàn, hổ cứ, như muôn quân nghìn tướng chầu về… ở đất này sẽ được hưởng phúc muôn đời… Khu Di tích danh thắng Côn Sơn bao gồm cả núi Kỳ Lân liền kề; đền Kiếp Bạc tựa lưng vào núi Trán Rồng, trước mặt là sông Lục Đầu. Côn Sơn – Kiếp Bạc lại tiếp giáp với dãy núi Phượng Hoàng và núi Rùa (phía Tây Bắc), tạo thành một vùng đất quần tụ đủ tứ linh, ngũ nhạc, lục đầu giang. Đó là sự sắp đặt kỳ diệu của tạo hóa đối với Khu Di tích danh thắng Côn Sơn – Kiếp Bạc – Phượng Hoàng với sông núi thị xã Chí Linh.
Đây là vùng đất lịch sử còn mãi âm vang những chiến công lừng lẫy trong ba lần quân dân Nhà Trần chiến thắng quân xâm lược Nguyên Mông thế kỷ XIII. Côn Sơn, Kiếp Bạc còn là vùng danh sơn huyền thoại, với những thắng cảnh tuyệt vời, những di tích cổ kính, gắn liền với thân thế, sự nghiệp của Trần Hưng Đạo và Nguyễn Trãi, hai vị anh hùng dân tộc kiệt xuất đã làm rạng rỡ cho non sông đất nước, cùng với nhiều danh nhân văn hóa của dân tộc: Trần Nhân Tông, Pháp Loa, Huyền Quang, Trần Nguyên Đán…

Nếu như Khu Di tích lịch sử Kiếp Bạc là một trung tâm nội đạo thờ Đức thánh Trần thì Khu Di tích Côn Sơn là một trong những trung tâm Phật giáo của dòng thiền phái Trúc Lâm Đại Việt mà Điều Ngự Giác Hoàng Trần Nhân Tông sáng lập ở thế kỷ XIV. Côn Sơn còn là nơi thờ quan Đại tư đồ Trần Nguyên Đán và Anh hùng dân tộc, Danh nhân văn hóa thế giới Nguyễn Trãi. Côn Sơn, Kiếp Bạc là một trong những khu di tích tiêu biểu kết tinh tư tưởng tam giáo đồng nguyên: Phật giáo – Đạo giáo – Nho giáo cùng hòa đồng, mục đích là quy tụ nhân tâm, lấy thần quyền phục vụ cho vương quyền, củng cố tư tưởng độc lập tự chủ của dân tộc.

Côn Sơn là mảnh đất lịch sử lâu đời. Hơn một ngàn năm trước, Định Quốc Công Nguyễn Bặc, thủy tổ của dòng họ Nguyễn Trãi đã lập căn cứ ở đây để đánh sứ quân Phạm Phòng Át, giúp Đinh Tiên Hoàng thống nhất đất nước vào năm 968.

Cùng với Yên Tử, Quỳnh Lâm và Thanh Mai, Côn Sơn là chốn tổ của thiền phái Trúc Lâm, một thiền phái mang đậm bản sắc văn hóa Việt Nam. Đệ nhất tổ – Điều Ngự Giác Hoàng Trần Nhân Tông, Đệ nhị tổ – Pháp Loa tôn giả và Đệ tam tổ – Huyền Quang tôn giả đã về đây hoằng dương thuyết pháp, xây dựng chùa Hun thành chốn tổ đình gọi là liêu Kỳ Lân, một thiền viện lớn nổi tiếng của Triều Trần.

Tổng quan Di tích lịch sử Côn Sơn, Kiếp Bạc (Ảnh: TL)

Côn Sơn là mảnh đất có bề dày văn hóa hiếm có. Ở đây, văn hóa Phật giáo, văn hóa Nho giáo và văn hóa Lão giáo cùng tồn tại và phát triển qua nhiều thế kỷ, nhưng tất cả đều thấm đẫm bản sắc văn hóa Việt, đều để lại dấu ấn qua mỗi công trình xây dựng, qua từng chi tiết kiến trúc trên các bia đá, tượng thờ, hoành phi, câu đối…Văn hóa Lý – Trần, văn hóa Lê – Nguyễn được bảo tồn khá nguyên vẹn ở các tầng văn hóa dưới lòng đất. Di sản văn hóa phi vật thể quý giá ở Côn Sơn lưu giữ trong sách vở, trong các truyền thuyết và các nghi thức cúng tế, trong các hoạt động lễ hội vô cùng phong phú. Hiếm ở đâu có nhiều trí thức, những nhà văn hóa đến thăm viếng như ở Côn Sơn. Trần Nguyên Đán – quan Đại tư đồ phụ chính, nhà thơ, nhà lịch pháp lớn thời Hậu Trần đã về Côn Sơn dựng Thanh Hư động để lui nghỉ những năm tháng cuối đời. Thời Lê sơ, Anh hùng dân tộc, Danh nhân văn hóa thế giới Nguyễn Trãi đã gắn bó cả cuộc đời, sự nghiệp với Côn Sơn. Lê Thánh Tông, vị minh quân và là Tao Đàn nguyên súy (thời Lê sơ); Thánh thơ Cao Bá Quát (thời Nguyễn)… đều đã đến đây vãng cảnh, làm thơ, để lại những thi phẩm giá trị. Tháng 2 năm 1965, Hồ Chủ tịch về thăm Côn Sơn. Người đã lên thăm Thạch Bàn, Thanh Hư động và đọc văn bia trước cửa chùa Hun, bằng sự trân trọng thiêng liêng và niềm giao cảm đặc biệt với cổ nhân.

Người xưa từng đúc kết: “Núi chẳng cần cao có tiên ắt nổi tiếng. Nước chẳng cần sâu có rồng ắt thiêng”. Mỗi sự vật, di tích ở Côn Sơn đều lấp lánh ánh sáng của Nguyễn Trãi – Sao Khuê; mỗi địa danh ở Côn Sơn đều in đậm dấu ấn thiêng liêng, áng thi văn, cổ thoại, truyền thuyết ly kỳ và những sự tích bất hủ của những danh nhân kim cổ. Những di tích và tên tuổi các danh nhân, của Trúc Lâm Tam Tổ, đặc biệt là của Nguyễn Trãi, đã nâng tầm vóc Côn Sơn trở thành quốc tự, thành di tích đặc biệt quan trọng của quốc gia, thành “một cõi đi về” trong đời sống tâm hồn của muôn triệu người dân Việt.

Cảnh sắc thiên nhiên và con người tạo dựng đã làm cho Côn Sơn thành một “Đại thắng tích”. Ở đây, có núi Kỳ Lân và Ngũ Nhạc, với rừng thông bát ngát, suối chảy rì rầm, nước hồ trong mát; có Bàn Cờ Tiên, Thạch Bàn, Giếng Ngọc, có Ngũ Nhạc linh từ… Cũng vì Côn Sơn cảnh vật tốt tươi, “sắc ngàn ráng đỏ, rừng gấm cuốn, cỏ lụa giăng”, chùa chiền cổ bích, am pháp thâm nghiêm, u tịch và tao nhã, nước biếc, non xanh, hữu tình và hoà hợp, thành miền thắng cảnh làm say đắm hồn người, là nơi con người có thể gửi gắm ước nguyện tâm linh, thoả chí hướng và rung động tâm hồn. Cho nên, từ bao đời nay, mùa trảy hội, “trai thanh gái lịch đi lại đông như mắc cửi”; bao thi nhân, trí giả tìm về rồi ở đó, nghiền ngẫm và xúc cảm viết lên những trước tác có giá trị sâu sắc, những áng thơ văn tuyệt đẹp. Ở đây, Huyền Quang viết kinh, thuyết pháp, làm thơ; Trần Nguyên Đán nghiên cứu nông lịch và viết “Băng Hồ ngọc hác tập”, Nguyễn Phi Khanh viết “Thanh Hư động ký” và Nguyễn Trãi viết “Côn Sơn ca” cùng nhiều thi ca xứng là kiệt tác.

Những năm gần đây, nhân dân Hải Dương, được sự đồng lòng của đồng bào cả nước, đã tu bổ nhiều di tích như đền thờ Nguyễn Trãi, đền thờ Trần Nguyên Đán, đường lên Ngũ Nhạc… làm cho Côn Sơn càng giàu thêm giá trị văn hoá, cảnh sắc càng thêm tráng lệ, tôn nghiêm, hấp dẫn du khách bốn phương.

Kiếp Bạc là một địa danh lừng lẫy bên Lục Đầu Giang, cách Côn Sơn chừng 5 cây số. Đây là đầu mối huyết mạch giao thông thủy bộ, trấn giữ cửa ngõ phía Đông Kinh thành Thăng Long. Nơi đây trời bày, đất dựng, vị trí đắc địa về phong thủy, hình thế hiểm yếu về quân sự, có tứ linh quần tụ, chung đúc khí thiêng. Sau cuộc kháng chiến chống Nguyên Mông lần thứ nhất năm (1258), Quốc Công Tiết Chế Trần Hưng Đạo đã chọn Kiếp Bạc lập đại bản doanh; xây dựng phòng tuyến quân sự vùng Đông Bắc, kéo dài từ biên giới Lạng Sơn qua ải Chi Lăng, Nội Bàng theo sông Lục Nam, qua Lục Đầu Giang, Bạch Đằng ra biển Đông… trong đó căn cứ địa Vạn Kiếp làm trung tâm chỉ huy. Đây là trận đồ “thủy bộ hợp thành, tiến thế công, thoái thế thủ” để chống quân xâm lược Nguyên Mông.

Tháng 6 năm 1285, tại đây Hưng Đạo Vương đã tập hợp 20 vạn quân, hơn 1000 thuyền chiến đánh trận Vạn Kiếp, tiêu diệt 20 vạn quân Nguyên Mông, kết thúc cuộc kháng chiến lần thứ hai một cách nhanh gọn. Tháng 3 năm 1288, từ căn cứ Vạn Kiếp, Hưng Đạo Vương cùng Vua Trần Nhân Tông tổ chức phản công đánh trận quyết chiến chiến lược Bạch Đằng, tiêu diệt 30 vạn quân giặc, kết thúc thắng lợi 3 lần kháng chiến chống đế quốc Nguyên Mông vĩ đại của dân tộc.

Đất nước thanh bình, Trần Hưng Đạo đã về ở hẳn tại tư dinh Vạn Kiếp cho tới cuối đời. Tại đây, Đại Vương đã viết “Binh gia diệu lý yếu lược” để dạy tướng sỹ, và viết “Vạn Kiếp tông bí truyền thư”, đúc kết những kinh nghiệm, những bí quyết đánh giặc giữ nước của một đời cầm quân truyền lại cho hậu thế. Trước khi mất, được Vua Trần Anh Tông về thăm bệnh và hỏi kế sách giữ nước, Đại Vương đã căn dặn: “Khoan thư sức dân làm kế sâu rễ bền gốc, đó là thượng sách để giữ nước”.

Đền Kiếp Bạc là nơi thờ phụng Trần Hưng Đạo (Ảnh: TL)

Đại Vương là danh tướng bậc nhất “tài mưu lược, anh hùng, một lòng giữ gìn trung nghĩa…lập nên công nghiệp hiếm có. Tiếng vang đến giặc Bắc, chúng thường gọi là An Nam Hưng Đạo Vương mà không dám gọi tên”. Ngài đã được Triều đình Nhà Trần cho lập đền thờ ngay khi còn sống, gọi là Sinh Từ; Thượng hoàng Trần Thánh Tông tự soạn văn bia ca ngợi công đức Đại Vương. Ngày 20 tháng 8 năm Canh Tý (1300), Đại Vương mất tại Kiếp Bạc. Triều đình đã tôn phong là Thái sư Thượng phụ Thượng quốc công Nhân Vũ Hưng Đạo Đại Vương; nhân dân Đại Việt tôn ngài là Đức Thánh Trần, xây đền Kiếp Bạc để tưởng nhớ công lao to lớn đối với non sông, đất nước. Ngày giỗ Đại Vương hàng năm trở thành ngày chính hội đền Kiếp Bạc. Hội Đền kéo dài hàng tuần, thu hút hàng chục vạn con dân Đại Việt từ khắp mọi miền đất nước về kính bái, nguyện cầu. Đó là một trong số lễ hội lớn nhất của cả nước được gìn giữ hơn 7 thế kỷ nay, trở thành mỹ tục truyền thống, thể hiện sâu sắc đạo lý “uống nước nhớ nguồn” của dân tộc.

Đền Kiếp Bạc cùng với hai ngôi đền trên núi Bắc Đẩu và Nam Tào được ví như “một cõi thiên bồng giữa hạ giới”. Tại vị trí trang trọng nhất của đền Kiếp Bạc, tượng thờ Đức Thánh Trần đường bệ, uy nghi, bao thế kỷ vẫn là biểu tượng của hào khí Đông A lẫm liệt. Được phối thờ tại Đền là gia quyến của Đại Vương, gồm 4 tượng thờ: Nguyên từ Quốc mẫu Thiên Thành công chúa (tức phu nhân của Trần Hưng Đạo), Tướng quân Phạm Ngũ Lão (danh tướng Đời Trần, là con rể của Đại Vương), 2 người con gái của Trần Hưng Đạo là Đệ nhất Khâm từ Hoàng thái hậu Quyên Thanh công chúa (phu nhân của Đức Vua Trần Nhân Tông), Đệ nhị Nữ hoàng Anh Nguyên quận chúa (phu nhân Tướng quân Phạm Ngũ Lão) và 4 ngai bài vị thờ bốn con trai của Đại Vương.

Cổng đền Kiếp Bạc có câu đối nổi tiếng:

“Kiếp Bạc hữu sơn giai kiếm khí;

Lục Đầu vô thuỷ bất thu thanh”

Nghĩa là:

Kiếp Bạc muôn ngọn núi đều có hùng khí của kiếm thiêng

Lục Đầu không còn nước nào chẳng vọng tiếng thu”

Có thể nói, mỗi cảnh sắc, hiện vật, dấu tích ở Kiếp Bạc đều gợi về bản hùng ca giữ nước vĩ đại của dân tộc ở triều đại Nhà Trần.

Hàng năm ở Côn Sơn – Kiếp Bạc có hai kỳ lễ hội truyền thống mùa xuân và mùa thu. Lễ hội mùa xuân kỷ niệm ngày viên tịch của Đệ tam Thánh tổ Huyền Quang tôn giả (ngày 23 tháng Giêng), lễ hội mùa xuân Côn Sơn có nhiều nghi lễ như: Lễ Mông Sơn thí thực, lễ tế trời đất trên Ngũ Nhạc linh từ, lễ rước nước, cùng nhiều trò chơi dân gian như: Đu tiên, chọi gà, cờ người, đấu vật… Lễ hội mùa thu tưởng niệm ngày mất của Đức Thánh Trần Hưng Đạo (ngày 20 tháng 8 Âm lịch) và ngày mất của Anh hùng dân tộc, Danh nhân văn hoá thế giới Nguyễn Trãi (ngày 16 tháng 8 Âm lịch). Lễ hội mùa thu đền Kiếp Bạc có nhiều nghi thức tế lễ và diễn xướng dân gian rất nổi tiếng như: Lễ rước cỗ tiến Thánh, Lễ hội quân trên sông Lục Đầu, lễ cầu an và hội hoa đăng trên sông Lục Đầu, tục hầu Thánh, lễ ban ấn của Đức Thánh Trần… Các trò chơi dân gian như: Đấu vật, đua thuyền, bắt vịt, nấu cơm thi, nhảy phỗng… Trong các kỳ lễ hội có hàng chục vạn du khách và nhân dân thập phương về dâng hương lễ bái.

Trong những năm qua, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đã cùng UBND tỉnh Hải Dương đầu tư kinh phí tu bổ Di tích và tổ chức nghiên cứu phục dựng lại các nghi lễ của Lễ hội Côn Sơn – Kiếp Bạc, Khu Di tích ngày càng khang trang khởi sắc. Ngày 18-6-2010, Thủ tướng Chính phủ đã ký Quyết định số 920/QĐ-TTg phê duyệt “Quy hoạch tổng thể bảo tồn Khu Di tích lịch sử văn hóa Côn Sơn- Kiếp Bạc gắn với phát triển du lịch thị xã Chí Linh, tỉnh Hải Dương”.

Ngày 10-5-2012, Thủ tướng Chính phủ ký Quyết định số 548/QĐ-TTg công nhận Khu Di tích Côn Sơn – Kiếp Bạc là Di tích quốc gia đặc biệt.

Những giá trị lịch sử, văn hoá của Côn Sơn- Kiếp Bạc, cùng với danh thơm, sự nghiệp của các bậc vĩ nhân đã tỏa rọi hào quang vào lịch sử và văn hoá dân tộc. Sự linh thiêng của đền Kiếp Bạc, chùa Côn Sơn tồn tại vĩnh hằng cùng non sông đất nước.

Tác giả bài viết: TS Nguyễn Khắc Minh
Nguồn tin: http://thegioidisan.vn

Tắm suối ở Côn Sơn

Dường như vừa buổi sáng nay
Người xưa tắm ở suối này, trước tôi
Suối đàn réo rắt, khơi vơi
Thanh âm chuốt tận xa xôi thuở nào
Nỗi niềm trời thấp đất cao
Trong veo nguồn quý rót vào muôn dân
Lòng ai vẩn bụi mấy phần
Tháng năm trong đục lọc dần tỉnh say.

Vốn xưa, đã bậc hiền tài
Tầm cao dữ thác, nhọn gai hiểm nghèo
Uất đời sấp ngửa, gian điêu
Hư danh nào phải xế chiều mới khinh
Chỉ thương trằn trọc dân lành
Gốc bền cái đẹp, hiển vinh mọi thời.

Nghiêng nghiêng dòng suối dọc đời
Ông bà tưới tắm hồn tôi mượt mà
Ngược bơi thăm quá khứ xa
Thời gian loang chảy xanh nhòa không gian
Suối sông Nguyễn Trãi đang tràn
Tôi làm nhánh nhỏ về ngang đất cằn.

Quê hương Chí Linh

Kính tặng quê hương

Ai về thăm đất Chí Linh.
Mà xem phong cảnh quê mình đẹp tươi.
Quê tôi bát ngát núi đồi.
Rừng thông vươn tới lưng trời vẫn xanh.
Kinh Thày, sông uốn lượn quanh.
Vòng ôm lấy mảnh đất lành Chí Linh.
Ven sông đồng lúa tươi xanh.
Có bao làng xóm thanh bình, đông vui.
Vải thiều xanh thắm bao đồi.
Quả tươi đỏ một góc trời ấm no.
Thênh thang quốc lộ đường to.
Về đây chẳng phải lụy đò, qua sông.
Bến Bình, Phả Lại cầu thông.
Ngược xuôi đến mọi nẻo đường Việt Nam.
Vượt qua nghèo đói, gian nan,
Quê tôi giờ đã ngập tràn niềm vui.
Công trường nhà máy khắp nơi.
Nhiệt điện Phả Lại lưng trời khói bay.
Chí Linh thị xã hôm nay,
Nông thôn đổi mới đang xây phố phường.
Hai mươi xã, thị ven đường.
Nay thành phố xá dọc, ngang giữa trời.
Ngày xưa, từ thuở xa xôi,
Đã về đây sống bao người tài cao.
Côn Sơn có động Thanh Hao,
Đức ông Nguyên Đán ở bao tháng ngày.
Thiên tài Nguyễn Trãi sau này,
Cuối đời, ông cũng về đây ẩn mình.
Lục Đầu, Hưng Đạo luyện binh.
Đánh tan giặc mạnh tài tình lắm thay.
Phượng Hoàng dáng núi rồng bay.
Chu Văn An chọn nơi đây dựng trường.
Làng Kỳ có chuyện lạ thường.
Nay là một điểm thuộc phường Văn An.
Bà Nguyễn Thị Duệ giả nam.
Thi đỗ tiến sĩ, sử vàng lưu danh.
Nhớ ơn người tạc sử xanh,
Dân xây đền, miếu lòng thành dâng hương.
Tháng giêng mở hội Côn Sơn.
Chùa thiêng nằm giữa rừng thông đại ngàn.
Người về trẩy hội chen chân.
Chuông chùa xa vắng, hương trầm ngát bay.
Hội đền Kiếp Bạc xưa, nay.
Người như sóng dậy những ngày xa xưa.
Nghe còn vọng tiếng quân hô.
Đàn voi Giã Tượng bất ngờ xông lên.
Kinh Thày gió lặng, sóng yên.
Trên sông tấp nập tàu, thuyền ngược, xuôi.
Ai đi du lịch muôn nơi,
Hãy về thăm đất, thăm người Chí Linh.
Đất lành, người sống nghĩa tình.
Quê hương nhân kiệt, địa linh bao đời.
Tương lai, hạnh phúc sáng ngời,
Là thành phố trẻ giữa trời tỉnh Đông.

Thông tin liên hệ

Địa chỉ: Khu dân cư Côn Sơn, Phường Cộng Hòa, Thị xã Chí Linh, Tỉnh Hải Dương (nằm trên đường vào khu di tích Côn Sơn)
Tel: 02203.882.803
Hotline:

  • 0966.221.968 (Ms. Anh)
  • 0934.82.8886 (Ms. Anh)
  • 0968.911.990 (Mr. Tùng)

Email: khachsanlananhhd@gmail.com

Bản đồ